HOTLINE

0903 618 961

Nhà phân phối độc quyền tại Việt Nam : 158 Đội Cung, P.9, Q.11, TPHCM

kinhdoanh

kinhdoanh

CẨM NANG VỀ HỘI CHỨNG TIỀN MÃN KINH & MÃN KINH Ở PHỤ NỮ

Tổng quan về hội chứng tiền mãn kinh và mãn kinh ở phụ nữ

I. Đại cương

 Đối với người phụ nữ, thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh là một giai đoạn mà trong cuộc đời của mỗi phụ nữ đều phải trải qua. Có người trải qua giai đoạn này một cách êm ả, nhẹ nhàng và ngắn ngủi nhưng với nhiều người thì tiền mãn kinh và mãn kinh là một giai đoạn đau khổ của cuộc đời. Thời kỳ tiền mãn kinh ở phụ nữ thường bắt đầu từ tuổi 41 đến 45 và đây là một hiện tượng sinh lý tự nhiên bình thường. Thời kỳ này có thể sảy ra trong thời gian ngắn 5 đến 7 tháng, dài từ 2 đến 4 năm hoặc có người kéo dài tới 5 đến10 năm.

Một số trường hợp mãn kinh sớm hơn, trước 40 tuổi thường gặp ở những phụ nữ hút thuốc lá nhiều, uống bia rượu nhiều, chiếu tia xạ trị bệnh, bị rối loạn miễn dịch, suy buồng trứng sớm và đặc biệt cắt tử cung...

 

 

 

  

 

 

 

 

 



II. Nguyên nhân

 Đối với phụ nữ thì nội tiết tố Estrogen do buồng trứng tiết ra hàng ngày, hàng tháng, hàng năm trong giai đoạn tuổi sinh sản là yếu tố quyết định cho đặc trưng phái nữ. Từ dáng vóc, da dẻ, tính tình, lời ăn tiếng nói, chức năng làm vợ, làm mẹ cho đến cả phong cách sống, lối sống, sinh hoạt phòng the... phần lớn đều do nội tiết tố nữ chi phối.

Từ sau tuổi 40, buồng trứng bắt đầu giảm chức năng, hiện tượng phóng noãn không đều, và vì vậy bắt đầu mất cân bằng về nội tiết tố. Estrogen bắt đầu giảm và thiếu hụt, không có progesterone. Từ đó các vấn đề rối loạn nội tiết tố kéo theo nhiều rối loạn khác sẽ xảy ra, biểu hiện bằng các triệu chứng lâm sàng mà chị em phụ nữ sẽ cảm nhận được.

Theo thông kê có tới 85% phụ nữ tuổi tiền mãn kinh bị hội chứng này, mức độ nặng hay nhẹ liên quan tới trạng thái thần kinh, tinh thần, tâm lý người phụ nữ. Tỷ lệ bị hội chứng này ở người lao động trí óc cao hơn người lao động tay chân.

      III.Triệu chứng

- Rối loạn kinh nguyệt: Bắt đầu kinh đến sớm muộn thất thường, lượng kinh it hay nhiều, có khi dừng đột ngột.


- Rối loạn vận mạch: có những cơn bốc hoả, hoa mắt chóng mặt ù tai, vã mồ hôi, nóng bừng ở phần trên cơ thể lan lên cổ, lên mặt làm người nóng, giãn mạch nên mặt đỏ bừng. Ra mồ hôi về ban đêm,  làm mất ngủ, người lúc nóng lúc lạnh, triệu chứng này càng nặng lên khi mãn kinh.


- Rối loạn về tâm sinh lý : Lo lắng hồi hộp, nhiều khi tim đập nhanh, thay đổi tính tình hay cáu gắt, mất bình tĩnh, mất tự tin, dễ buồn nản và có thể lâm vào tình trạng trầm cảm. Không tập chung, giảm trí nhớ, hay quên, bắt đầu xuất hiện những triệu chứng của bệnh Alzheimer.

 

- Thay đổi bề ngoài: Khi estrogen sụt giảm thì làm giảm và mất đi tổ chức mỡ dưới da, làm da không còn trơn bóng nữa, trở nên nhăn nheo, nám da, sạm da, cơ nhão, ngực vì thế cũng lép và chảy sệ. Thay vào đó mỡ lại tích tụ ở nội tạng, đùi, eo làm cho bụng to lên, tăng cân, cơ thể sồ sề.


- Các tuyến mồ hôi, tuyến bã giảm hoạt động nên lông tóc móng khô giòn dễ gẫy, dễ bạc màu, dễ rụng.


- Thay đổi về cơ quan sinh sản: Buồng trứng, tử cung, âm đạo teo nhỏ, các tuyến giảm thiểu ít chế tiết chất nhày nên làm âm đạo khô, dễ bị viêm nhiễm do tạp khuẩn. Giảm khoái cảm và ham muốn tình dục.


- Giảm thiểu đường tiết niệu: niệu đạo ngắn, trương lực cơ bàng quang kém, cơ thắt cổ bàng quang yếu nên dễ bị són tiểu, nươc tiểu lắng đọng bàng quang dễ viêm nhiễm đường tiết niệu.


- Ảnh hưởng đến khung xương: Giảm đưa canxi vào xương dẫn đến loãng xương rồi mất xương, lún xẹp các đốt sống, giảm chiều cao. Dễ bị xốp xương, giòn xương, dễ gãy đầu dưới xương quay và cổ xương đùi.


- Bệnh tim mạch: Tăng 2-4 lần so với người chưa mãn kinh, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tăng nguy cơ huyết khối.


- Bệnh ung thư: Dễ bị ung thư vú, ung thư cổ tử cung.

      IV. Điều trị

Cần phải tăng cường kích thích cơ thể tổng hợp nội tiết tố nữ thông qua thể dục tích cực và dinh dưỡng đầy đủ, ngoài ra có thể dùng liệu pháp thay thế hoóc môn sinh duc nữ.

1. Liệu pháp thay thế bằng hoóc môn sinh dục nữ (đưa một lượng estrogen có nguồn gốc tổng hợp vào cơ thể)


  * Lợi ích của liệu pháp này:
     • Giảm các triệu chứng vận mạch.
     • Giảm các triệu chứng ngoài da.
     • Giảm các triệu chứng teo ở hệ sinh dục.
     • Lợi ích đến hệ thống xương.
     • Lợi ích đến hệ tim mach.
     • Lợi ích khác: tăng tình dục, tăng tới máu não, tăng trí nhớ, giảm nguy cơ Alzheimer.
 
* Nguy cơ của liệu pháp Hoóc môn thay thế:
     • Quá sản nội mạc tử cung.
     • Nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú.
     •Tăng huyết áp.
     • Bệnh huyết khối.
Hiệu quả điều trị sẽ đạt được rõ rệt khi bù đắp sự hao hụt các hoóc môn sinh dục nội sinh trong thời kỳ mãn kinh nhờ sử dụng “liệu pháp thay thế hoóc môn”, tức sử dụng các hoóc môn nguồn gốc tổng hợp. Tuy nhiên, liệu pháp này phải dùng như thế nào cho đúng và phải nhớ rằng hoóc môn thay thế là con dao hai lưỡi, dùng đúng cho kết quả tốt; dùng không đúng dễ dẫn đến nguy hiểm. Điều trị theo liệu pháp này phải có đơn thuốc theo chỉ định và dưới sự theo dõi của bác sĩ.

mầm đậu nành chứa estrogen thực vật

2. Liệu pháp thay thế estrogen thực vật từ mầm đậu nành.


Do sử dụng liệu pháp hoóc môn thay thế có nguồn gốc tổng hợp đưa vào, gây ra nhiều tác dụng phụ. Vì vậy, xu hướng hiện nay dùng các thảo dược có hàm lượng estrogen thực vật thay thế an toàn đang chiếm ưu thế. Các nghiên cứu khoa học từ mầm đậu nành cho thấy trong mầm đậu nành có isoflavon, còn được gọi là estrogen thực vật (Phytoestrogen) có tác dụng tương tự như hoóc môn estrogen. Vì vậy làm giảm các triệu chứng khó chịu ở phụ nữ ờ thời kỳ tiền mãn kinh – mãn kinh do thiếu hụt estrogen , chống được nguy cơ bệnh tim mạch, ngăn ngừa loãng xương, không kích thích mô vú, không kích thích nội mạc tử cung, rất an toàn.


   
* Hiệu quả tác dụng của isoflavon mầm đậu nành :
-    Ngăn ngừa ung thư vú, tử cung: sử dụng isoflavone thường xuyên sẽ liên quan tới giảm nguy cơ ung thư vú và tử cung.
-    An toàn – không có hoạt tính estogenic > hệ sinh sản: nghiên cứu của Nahas AP et al. Maturitas 58(2007)249-258 cho thấy không có sự thay đổi về độ dày nội mạc tử cung.
-    Cải thiện chuyển hoá lipid, giảm nguy cơ bệnh tim mạch.


   
* Hiệu quả lâu dài: Giảm xơ vữa động mạch, giảm tổn thương mạch máu, tăng sự phát triển tế bào biểu mô, giảm sự phát triển tế bào cơ trơn.
-    Phần lớn các chỉ số chuyển hoá lipid được cải thiện.
-    Sự cải thiện HDL và LDL tỷ lệ thuận với liều dùng. Thành phần protein và isoflavones đều quan trọng đối với chuyển hoá lipid.
-    Giảm các triệu chứng của tiền mãn kinh - mãn kinh.
-    Ngăn ngừa loãng xương.
-    Bảo vệ tim mach.
-    Đậu nành chứa nhiều chất chống oxy hóa.


Sản phẩm hàng đầu Châu Âu

mang lại chất lượng cuộc sống

cho phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh & mãn kinh

Trong nhiều năm qua, Origine 63 Menopause đóng vai trò quan trọng trong việc, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhiều chị em phụ nữ đã, đang và chuẩn bị trải qua một giai đoạn quan trọng của cuộc đời, đó là giai đoạn của thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh, thông qua cơ chế bằng liệu pháp hormon thay thế, tức bổ sung nội tiết tố nữ Estrogen (đặc biệt estrogen có nguồn gốc từ thực vật).

Các thành phần chính của sản phẩm Origine 63 là một công thức phối hợp hoàn hảo đã được chứng minh và được các nhà khoa học Châu Âu đánh giá khá cao trong việc nâng cao “ chất lượng cuộc sống ” của chị em phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh.

 

Thông tin sản phẩm Origine 63 Menopause :

  1. Thành phần chính :
  1. Chiết xuất Mầm đậu nành (với 40% Isoflavone)   :       50mg
  2. Chiết xuất Ginkgo biloba (bạch quả) định chuẩn  :       45mg
  1. Chức năng chính của các thành phần :

1. Isoflavone chiết xuất từ mầm đậu nành là hoạt chất có nguồn gốc thảo dược và được các nhà Khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhiều nhất, bỡi vì chức năng và cơ chế hoạt động của nó gần giống như hormone nữ (estrogen). Nên nó được các nhà khoa học gắn với tên gọi là Phytoestrogen.

 Ngoài những công dụng hữu ích dành cho phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh – mãn kinh được các nhà khoa học trên thế giới công nhận như : Giảm cơn bốc hỏa, giảm căng thẳng cáu gắt, đỏ bừng mặt, mất ngủ, rối loạn kinh nguyệt, khô âm đạo, giảm ham muốn tình dục,.... thì Isoflavone còn có nhiều tác dụng hữu ích khác đã được các nhà khoa học chứng minh như : Giảm nguy cơ ung thư vú , ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng , giảm nguy cơ bệnh tim mạch, loãng xương. (Nhờ 03 chất Genistein, Daidzein và Glycetein có trong Isoflavone).

Theo các chuyên gia thuộc Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), lượng Isoflavone chấp nhận được đối với một người trưởng thành là 40mg/ngày. Tuy nhiên nhiều công trình khảo sát cho thấy lượng Isoflavone đưa vào cơ thể bằng nguồn thức ăn hàng ngày chỉ có được khoảng 20-30mg; Vì vậy, nên dùng đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành thường xuyên để tăng cường chất Isoflavone cho cơ thể, giúp bảo vệ sức khỏe trước những căn bệnh nguy hiểm.

 

2. Ginkgo biloba (chiết xuất từ cây Bạch quả) là loại cây sống lâu đời nhất đã tồn tại 200 triệu năm qua nên còn được mệnh danh là “hóa thạch sống”. Lá và hạt của Ginkgo biloba đã được sử dụng để chữa bệnh từ cách đây gần 5,000 năm trước.

 Vài thập niên gần đây, ngành hóa thực vật Châu Âu đã phát hiện ra dịch chiết từ lá Ginkgo biloba với nồng độ cao có thể cải thiện lưu thông mạch máu một cách hiệu quả, đồng thời chứa các hoạt chất có tác dụng bổ não, chống lão hóa, giúp cho con người (đặc biệt là người cao tuổi) phục hồi trí nhớ, trị chứng mất ngủ, trí nhớ kém, hay cáu gắt,...

Những công dụng này đã giúp cho Ginkgo biloba trở nên ngày càng nổi tiếng trên toàn thế giới,đặc biệt là Ginkgo biloba được tinh chiết với công nghệ cao tại Pháp. ( thí dụ : sản phẩm Tanakan,..)

                                   

 

    C. Kết luận :

 Sản phẩm Origine 63 Menopause được sản xuất tại nhà mày TILMAN – Vương Quốc Bỉ, là một trong những sản phẩm hàng đầu Châu Âu, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh,giúp cho chị em phụ nữ có một cuộc sống vui vẻ, chất lượng và an tâm hơn trong giai đoạn nửa sau của cuộc đời.

   

                              

Các tài liệu tham khảo sau đây được liệt kê theo thứ tự: tên tác giả, tựa đề bài báo, tên tập san (viết tắt theo qui luật quốc tế), năm xuất bản, bộ số, và trang. 

[3] Naim H, et al. Soy bean isoflavones, characterisation, determination and antifugal activity. J Agric Food Chem 1974;22:806-810. 
[4] Clevenger S. Flower pigments. Sci Am 1964; 210:84-92. 
[5] Bradbury RB, White DE. Oestrogens and related substances in plants. Vitam Horm 1954; 12:207-33. 
[6] Farnsworth NR, et al. Potential value of plants as sources of new antifertility agents. J Pharmacol Sci 1975; 64:717-54. 
[7] Colditz GA, et al. Type of postmenopausal hormone use and risk of breast cancer: 12-year follow-up from the Nurses’ Health Study. Cancer Causes Control 1992; 3:433-39. 
[8] Murkies AL, et al. Dietary flour supplementation decreases postmenopausal hot flushes: effects of soy and wheat. Maturitas 1995; 21:189-95. 
[9] Morabito N, et al. Effects of genistein and hormone replacement therapy on bone loss in early postmenopausal women: a randomized double-blind placebo-controlled study. J Bone Miner Res 2002; 17:1904-12.  
[10] Parkin DM. Cancers of the breast, endometrium, and ovary: geographic correlations. Eur J Clin Oncolo 1989; 25:1917-25. 
[11] Ross PD, et al. International comparisons of mortality rates for cancer of the breast, ovary, prostate and colon, and per capita food consumption. Cancer 1986; 58:2363-71. 
[12] Severson RK, et al. A prospective study of demographics, diet, and prostate cancer among men of Japanese ancestry in 
Hawaii
. Cancer Res 1989; 49:1857-60. 
[13] Haenszel W, et al. Stomach cancer among Japanese in 
Hawaii
. J Natl Cancer Inst 1972; 49:969-88. 
[14] Nagai M, et al. Relationship of diet to the incidence of esophageal and stomach cancer in 
Japan
. Nutr Cancer 1982; 3:257-68. 
[15] Koo LC, et al. Dietary habits and lung cancer risk among Chinese females in 
Hong Kong
 who never smoked. Nutr Cancer 1988; 11:155-72. 
[16] Lee HP, et al. Dietary effects on breast cancer risk in 
Singapore
. Lancet 1991; 337:1197-200. 
[17] Wu AH, et al. Tofu and risk of breast cancer. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev 1996; 5:901-6. 
[18] Lee HP, et al. Dietary effect on breast cancer risk in 
Singapore
. Lancet 1991;337:1197-2000. 
[19] Goodman MT, et al. Association of soy and fiber consumption with the risk of endometrial cancer. Am J Epidemiol 1997; 146:294-306. 
[20] Trichopoulos D, et al. The effects of Westernization on urine estrogens, frequency ov ovulation and breast cancer risk. 
Cancer 1984; 53:187-192. 
[21] Lamartiniere CA, et al. Genistein suppresses mammary cancer in rats. Carcinogenesis 1995; 53:187-192. 
[22] Lamartiniere CA, et al.
Neonatal genistein chemoprevents mammary cancer. Proc Soc Exp Biol Med 1995; 208:120-3. 
[23] Olsson H, et al. Retrospective assessment of menstrual cycle length in patients with breast cancer, in patients with benign breast cancer and in women without breast cancer. J Natl Cancer Inst 1983; 70:17-20. 
[24] Treolar AE, et al. Variation of the human menstrual cycle through reproductive life. Int J Fertil 1970; 12:77-126. 
[25] Key TJA, et al. Sex hormones in rural 
China
 and Britain. Br J Cancer 1990; 62:631-636. 
[26] Lu LH, et al. Effects of soya consumption for one month on steroid hormones in premenopausal women: implications for breast cancer risk reduction. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev 1996; 5:63-70. 
[27] Baird DD, et al. Dietary intervention study to assess estrogenicity of dietary soy among postmenopausal women. J Clin Endocrinol Metab 1995; 80:1685-90. 
[28] Lock M. Contested meanings of the menopause. Lancet 1991; 337:1270-72.  
[29] Artaud-Wild SM, et al. Differences in coronary mortality can be explained by differences in cholesterol and saturated fat intakes in 40 countries but not in 
France
 and Finland. A paradox.Circulation 1993; 88:2771-9. 
[30] Keys A, et al. The seven countries study: 2289 deaths in 15 years. Prev Med 1964; 13:141-154. 
[31] Chae CU, et al. Postmenopausal hormones replacement therapy and cardiovascular disease. Thromb Haemost 1997; 78:770-80.  
[32] Stampler MJ, et al. Postmenopausal estrogen therapy and cardiovascular disease: ten-year follow-up from the Nurses’ Health Study. N Engl J Med 1991; 325:756-62. 
[33] Gilligan DM, et al. Effects of estrogen replacement therapy on peripheral vasomotor function in postmenopausal women. Am J Cardiol 1995; 75:264-268. 
[34] Cassidy A, et al. Biological effects of isoflavones in young women: importanceof the chemical composition of soy bean products. Br J Nutr 1995; 74:587-601. 
[35] Gooderham MJ, et al. A soy protein isolate rich in genistein and daidzein and its effects on plasma isoflavone concentrations, platelet aggregation, blood lipids and bone density in postmenopausal women. J Nutr 1996; 126:2000-6. 
[36] Carroll KK. Review of clinical studies on cholesterol-lowering response to soy protein. J Am Diet Assoc 1991; 91:820-27. 
[37] Sirtori CR, et al. Soybean protein diet and plasma cholesterol: from therapy to molecular mechanisms. Ann NY Acad Sci 1993; 676:188-201. 
[38] JW Anderson và đồng nghiệp. 
Meta
 analysis of the effects of soy protein intake on serum lipids. New England Journal of Medicine 1995; 333:276-282. 
[39 Bennetts HW, et al. S specific breeding problem of sheep on subterranean clover pastures in 
Western Australia
. Aust Vet 1946; 22:2-12. 
[40] Bradbury RB, White DE. Estrogen and related substances in plants. Vitamins Hormones 1954; 12:207-233. 
[41] Labov JB. Phytoestrogens and mammalian reproduction. Comp Biochem Physiol 1977; 57:3-9. 
[42] Sharpe RM, 
Skakkebaek NE.
 Are estrogens involved in falling sperm counts and disorders of the male reproductive tract? Lancet 1993; 341:1392-5. 
[43] Huggett AC, et al. Phytoestrogens in soy-based infant formula. Lancet 1998; 350:815-6.